Wednesday, March 25, 2015
Bắn pháo hao đêm giao thừa tại Hữu Lũng năm 2015.
Friday, December 19, 2014
Các Hoạt Động Kỷ Niệm 70 Năm Ngày Thành Lập QĐND Việt Nam, 25 Năm Ngày Hội Quốc Phòng Toàn Dân
UBND huyện Hữu Lũng tổ chức gặp mặt cán bộ quân đội nghỉ hưu và tổng kết phong trào thi đua chào mừng kỷ niệm 70 năm ngày thành lập QĐND Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2014), và 25 năm ngày hội QPTD (22/12/1989 - 22/12/2014).
Kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân
dân Việt Nam, 25 năm ngày Hội Ọuốc phòng toàn dân là dịp để chúng ta ôn lại lịch
sử, truyền thống vẻ vang, những chiến công oanh liệt của Quân đội và nhân dân
ta. Qua đó. khơi dậy niềm tự hào, tự tôn dân tộc, nâng cao lòng yêu nước, yêu
chủ nghĩa xã hội. ý chí quật cường, ý thức tự lực, tự cường vượt qua mọi khó
khăn, thử thách, ra sức xây dựng nền quốc phòng toàn dân vừng mạnh, xây dựng Ọuân
đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng
yêu câu nhiệm vụ trong giai đoạn mới của cách mạng; góp phần xứng đáng vào sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Như Bác vẫn hằng mong đưa đất nước “sánh vai với các cường quốc năm
châu…”./.
Wednesday, December 10, 2014
Kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/2014)
Truyền thống 70 năm xây dựng, chiến
đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/2014).
Dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời và cùng
toàn dân tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công:
Trong Chính
cương vắn tắt, Luận cương Chính trị tháng 10/1930, Đảng ta đã khẳng định con đường
giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, phải tổ chức ra quân đội công nông để
giành chính quyền và giữ chính quyền. Vì vậy, ngay sau khi Đảng Cộng sản Việt
Nam ra đời, các tổ chức vũ trang lần lượt được hình thành là Đội tự vệ đỏ trong
cao trào Xô viết - Nghệ Tĩnh và cao trào cách mạng (1930 - 1931).
Cuối tháng
10/1944, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ Trung Quốc trở về Hà Quảng, Cao Bằng. Căn cứ
chỉ dẫn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đồng chí Võ Nguyên Giáp cùng với đồng chí
Lê Quảng Ba họp bàn thống nhất tổ chức 1 trung đội, lực lượng chủ yếu lấy từ
các đội vũ trang châu Hà Quảng, Hòa An, Nguyên Bình, Ngân Sơn... và một số đồng
chí đã từng học quân sự ở nước ngoài về.
Chấp hành chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập tại một
khu rừng giữa 2 tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình, tỉnh
Cao Bằng. Đội gồm 34 chiến sĩ, trang bị 34 khẩu súng, chia thành 03 tiểu đội,
có chi bộ Đảng lãnh đạo, do đồng chí Hoàng Sâm làm đội trưởng, đồng chí Xích Thắng
làm chính trị viên.

(Lễ thành lập Việt Nam tuyên truyền giải
phóng quân)
Ngày
25/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân tiến công đồn Phay Khắt.
Ngày 26/12/1944 tiến công đồn Nà Ngần. Tháng 3/1945, Thường vụ Trung ương họp
và ra chỉ thị "Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta". Tháng
4/1945, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ, quyết định
thống nhất lực lượng vũ trang cả nước (Việt Nam Tuyên truyên giải phóng quân, Cứu
quốc quân…) Từ tháng 4/1945, cao trào kháng Nhật cứu nước. Ngày 15/5/1945, sau
buổi lễ thống nhất tại Định Biên Thượng, Định Hóa Thái Nguyên, đồng chí Võ Nguyên Giáp
trở thành Tư lệnh các lực lượng vũ trang thống nhất, mang tên Việt Nam giải
phóng quân.
Trên cơ sở
đánh giá thời cơ và tình hình cách mạng trong nước, Đảng ta đã lãnh đạo các tầng
lớp nhân dân đồng loạt đứng dậy tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền. Chỉ
trong vòng 15 ngày cuối tháng 8/1945, cuộc Tổng khởi nghĩa của nhân dân ta đã
giành thắng lợi hoàn toàn.
Cách mạng
Tháng Tám năm 1945 thành công, Việt Nam giải phóng quân được đổi tên thành Vệ
Quốc dân. Năm 1946, Vệ Quốc dân đổi tên thành Quân đội Quốc gia Việt Nam. Năm
1950, đổi tên thành Quân đội nhân dân Việt Nam.

(Bác Hồ đọc bản tuyên ngôn độc lập)
Ngày
22/12/1944, ngày thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyên giải phóng quân được lấy
làm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.
Quân
đội nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945- 1954)
Cách mạng
Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng trước một tình thế rất
phức tạp và chồng chất khó khăn. Cùng một lúc, chúng ta phải đối phó với cả “giặc
đói”, “giặc dốt”, “giặc ngoại xâm”, ở miền Bắc, gần 20 vạn quân Tưởng vào giải giáp vũ khí của
phát xít Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra. Ở miền Nam, thực dân Pháp được quân Anh
giúp sức đã trắng trợn gây hấn ở Nam Bộ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các lực lượng
vũ trang và nhân dân ta nhất tề đứng dậy hưởng ứng lời kêu gọi “Toàn quốc kháng
chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ngày
19/12/1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ.
Ngày
07/10/1947, Pháp huy động hơn 2 ngàn quân có máy bay, tàu chiến hỗ trợ mở cuộc
tiến công lớn lên Việt Bắc, hòng tiêu diệt cơ quan lãnh đạo kháng chiến và bộ đội
chủ lực của ta Quân ta đã liên tiếp phản công tiêu diệt địch, làm nên thắng lợi
của Chiến dịch Việt Bắc. Đây là thắng lợi quy mô lớn đầu tiên của quân và dân
ta, làm phá sản chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh" của thực dân Pháp.
Tháng 6/1950
ta mở Chiến dịch Biên Giới. Năm 1949 - 1952 Quân đội ta đã thành lập được nhiều
đại đoàn chủ lực như: Đại đoàn 304, 308, 316, 325 và Đại đoàn công pháo 351.
Tháng 9/1953, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân
1953 - 1954. Kế hoạch của Nava bắt đầu bị phá sản.
Ngày 06/12/1953, Bộ
Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau 55 ngày đêm chiến đấu Ngày
07/5/1954, bộ đội ta tổng công kích tiêu diệt toàn bộ cứ điểm Điện Biên Phủ. Kế hoạch Nava thất bại. Hội nghị Giơnevơ về
Đông Dương thắng lợi, buộc pháp phải công nhận độc lập dân tộc, chủ quyền thống
nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
Quân
đội nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1945 - 1975):
Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu
tranh chính trị ở miền Nam, “Đồng Khởi" làm thất bại một hình thức thống
trị điển hình bằng chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ (1954 - I960)
Sau năm 1954,
miền Bắc từng bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, là chỗ dựa và hậu
phương lớn của cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân.
Ở miên Nam, Mỹ
ra sức xây dựng ngụy quân, chỉ huy chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp đẫm máu những
người yêu nước, hô hào “Bắc tiến”, “lấp sông Bến Hải”; mở các chiến dịch lớn
đánh vào nhân dân, trả thù những người kháng chiến, thẳng tay thi hành cái gọi
là “Quốc sách tố cộng, diệt cộng", “Luật 10-59”, theo luật 10-59, tội xử
chỉ có hai mức: tử hình và khổ sai chung thân.
Hội nghị Trung
ương Đảng lần thứ 15 (tháng 1/1959), xác định con đường, mục tiêu, phương pháp
cách mạng ở miền Nam, mối quan hệ giữa hai chiến tuyến cách mạng ở hai miền Nam
- Bắc; giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới.
Từ phong trào
“Đồng khởi”, lực lượng vũ trang và hệ thống chỉ huy quân sự các cấp của ta từng
bước hình thành. Ngày 20/12/1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam
được thành lập.
Miền Bắc mở đường
bộ 559. đường biển 759 chi viện cho chiến trường miền Nam. Cuối năm 1960, hình
thức thống trị bằng chính quyền tay sai độc tài phát xít Ngô Đình Diệm bị thất
bại, đế quốc Mỹ vội vàng thay đổi, chuyển sang dùng chiến lược “Chiến tranh đặc
biệt".
Đánh thắng chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”
của đế quốc Mỹ ở miền Nam, tiếp tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ CNXH ở miền Bắc
(1961 đến giữa 1965):
Đế quốc Mỹ đã
thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt". Chúng đưa tiền của, vũ khí và
cố vấn vào miền Nam, chỉ huy quân đội ngụy, tiến hành chiến tranh, càn quét, dồn
dân, theo chiến thuật “tát nước bắt cá”.
Quân và dân miền
Nam đã sáng tạo ra hình thức tiến công “hai chân (quân sự, chính trị), ba mũi
(quân sự, chính trị, binh vận), ba vùng (rừng núi, đồng bằng, thành thị)",
tiến hành thắng lợi một số chiến dịch quy mô nhỏ và vừa (Bình Giã, Ba Gia, Đồng
Xoài), đẩy ngụy quyền Sài Gòn rơi vào tình trạng khủng hoảng triền miên.
"Quân lực Việt Nam cộng hòa đã không
còn đủ sức chiến đấu, chế độ Sài Gòn đã thất bại". Trước những thất
bại liên tiếp, Mỹ dựng nên sự kiện “Vịnh Băc Bộ”. Ngày 05/8/l964 Mỹ mở cuộc chiến
tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân, đánh ồ ạt ở các khu căn cứ
sông Gianh (Quảng Bình), Cửa Hội (thành phố Vinh). Lạch Trường (Thanh Hóa), Bãi
Cháy (Quảng Ninh). Ngày 05/8 trở thành
ngày truyền thống đánh thắng trận đầu của Bộ đội Hải quân nhân dân Việt Nam.
Cả nước có chiến tranh, đánh bại chiến lược
“Chiến tranh cục bộ" và chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất của đế
quốc Mỹ, mở ra giai đoạn “vừa đánh vừa đàm ” (giữa 1965 đến 1968):
Chiến lược
"Chiến tranh đặc biệt" bị phá sản, đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện
chiến lược “Chiến tranh cục bộ”; sử dụng quân Mỹ làm lực lượng cơ động chủ yếu
để tiêu diệt bộ đội chủ lực ta. Từ giữa năm 1965 đến 1967, chúng đưa vào miền
Nam hơn nửa triệu quân Mỹ và quân đội một số nước chư hầu, đồng thời sử dụng
không quân và hải quân mở chiến dịch "Sấm rền”, đánh phá ác liệt nhằm
"đưa miền Bắc trở lại thời kỳ đồ đá", ngăn chặn chi viện từ miền Bắc
và quốc tế vào miền Nam.
Trong 4 năm
(1964 - 1968), quân và dân miền Bắc đã bắn rơi 3.243 máy bay các loại, bắt sống
nhiều giặc lái, bắn chìm và bắn cháy 143 tàu chiến.
Hội nghị lần
thứ 11 (3/1965), lần thứ 12 (12/1965), Trung ương Đảng hạ quyết tâm động viên lực
lượng cả nước kiên quyết đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền
Nam thống nhất Tổ quốc.
Ngày
17/7/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi lịch sử: "Chiến tranh có thể
kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm, hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng, và một số
thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ!
Không có gì quý hơn độc lập tự do. Đến ngày thắng lợi nhân dân ta sẽ xây dựng lại
đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.”
Với khẩu hiệu
"Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược", miền
Bắc đã phát động nhiều phong trào thi đua ái quốc, "Thanh niên ba sẵn
sàng". "Phụ nữ ba đam đang", "Tay búa, tay súng" của
công nhân, "Ba quyết tâm " của trí thức tạo nên ý chí mới, sức mạnh mới
cổ vũ toàn dân đánh giặc.
Trên chiến trường
miền Nam, vừa xây dựng, vừa chiến đấu, lực lượng vũ trang quân giải phóng đã tổ
chức các đợt tiến công, bẻ gẫy nhiều cuộc hành quân quy mô lớn của Mỹ - Ngụy. Mở
đầu là chiến thắng Núi Thành, Quảng Nam (26/5/1965), tiếp đó là chiến công vang
dội đập tan hai cuộc phản công chiến lược mùa khô (1965 - 1966, 1966 - 1967)
làm thất bại chiến lược “Chiến tranh cục hộ" của Mỹ.
Thắng lợi của cuộc tiến công và nổi dậy Mậu
Thân năm 1968 làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải ngồi
vào bàn đàm phán với ta tại Hội nghị Pari. Sự nghiệp cách mạng chính nghĩa của
dân tộc ta đã có điều kiện mở ra mặt trận tiến công mới về ngoại giao “vừa
đánh, vừa đàm”.
Đánh thắng chiến lược “Việt Nam hóa chiến
tranh" và cuộc tập kích bằng không quân, hải quân lần thứ hai của đế quốc
Mỹ vào miền Bắc (từ năm 1969 đến cuối 1973):
Thất bại trên
chiến trường miền Nam, đế quốc đã thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến
tranh", dùng người Việt đánh người Việt, mở rộng chiến tranh ra toàn Đông
Dương.
Đầu năm 1972,
quân và dân ta mở cuộc tiến công chiến lược trên toàn miền Nam, làm thay đổi so
sánh lực lượng và thay đổi cục diện chiến tranh, dồn Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn
vào thế yếu trầm trọng hơn. Thắng lợi to lớn của quân và dân ta trên cả hai miền
Nam - Bắc, buộc Mỹ phải ký “Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh và lập lại
hòa bình ở Việt Nam (27/1/1973).
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm
1975, đỉnh cao chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam,
thống nhất Tổ quốc (cuối năm 1973 đến 30/4/1975):
Hiệp định Pari
được ký kết, nhưng với bản chất ngoan cố, đế quốc Mỹ không chịu từ bỏ âm mưu
duy trì chế độ thực dân mới, chia cắt lâu dài đất nước ta. chúng tăng cường viện
trợ quân sự, điều khiển chính quyền cua Nguyễn Văn Thiệu, ra sức củng cố ngụy
quân, ngụy quyền, mở các cuộc hành quân “tràn ngập lành thổ lấn chiếm vùng giải
phóng.
Hội nghị Bộ
Chính trị tháng 10/1974 và đầu năm 1975, Đảng ta đã đánh giá so sánh lực lượng
và đề ra quyết tâm giải phóng miền Nam. Xây dựng các đơn vị chủ lực như các
Quân đoàn 1, 2, 3, 4 và Đoàn 232.
Với thế lực mới,
quân và dân ta đã chủ động tiến công giải phóng Phước Long (06/1/1975).
Ngày 04/3/1975
mở chiến dịch Tây Nguyên.
Ngày 14/4/1975
Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Hồ Chí Minh. Thực hiện tư tưởng chỉ đạo
"Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng".
Ngày
29/4/1975, quân và dân ta tiến hành tổng tiến công trên toàn mặt trận.
Vào lúc 11 giờ
30 phút ngày 30/4/1975, cờ giai phóng đã tung bay trên nóc tòa nhà chính “Dinh
Độc Lập”. Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng.
(Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng)
Quân
đội nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội
chủ nghĩa (1975 - 2014):
Khắc phục hậu quả chiến tranh, ôn định đời sống
nhân dân, đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên trong giai đoạn mới:
Nhiệm vụ của
Quân đội được Trung ương Đảng nêu rõ: "Ra sức bảo vệ sự nghiệp cách mạng
và xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta...bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn
vẹn lãnh thỏ. vùng trời, vùng biển, biên giới và hải đảo của nước Việt Nam thống
nhất ", Đông thời "Tích cực tham gia sản xuất, góp phần xây dựng cơ sở
vật chất kỹ thuật của CNXH”.
Cùng toàn dân đánh thắng cuộc chiến tranh
xâm lược biên giới và làm tròn nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia:
Tháng 4/1977,
tập đoàn Pôn Pôt - Iêngxari đã phát động cuộc chiến tranh xâm lược biên giới
Tây Nam nước ta. Với sự giúp đỡ to lớn của Ọuân tình nguyện Việt Nam, ngày 07/01/1979,
các lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân Campuchia đã đánh đổ chế độ diệt
chủng Pôn Pốt - Iêngxari, hồi sinh, tái thiết lập đất nước.
Quân đội nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp đổi
mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa:
Thực hiện công
cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Chủ động và
kiên quyết thực hiện tốt nhiệm vụ cấp bách hàng đầu là phòng chống chiến lược
“diễn biến hòa hình, bạo loạn lật đổ”.
Tham gia phòng
chống thiên tai, bão lụt, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân.
Giữ vững vai
trò là lực lượng nòng cốt, tích cực tham gia củng cố, xây dựng cơ sở chính trị
địa phương, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và các địa bàn chiến
lược trọng yếu.
Trong công tác
xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.
Xây dựng kinh tế, Ọuân đội ta đã đạt được những thành tự trên tất cả các lĩnh vực:
nghiên cứu khoa học, chế tạo, sản xuât, sửa chữa, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật
và lĩnh vực quốc phòng. Các ngành công nghiệp quốc phòng, hậu cần, kỹ thuật, viễn
thông, dịch vụ.
Hiểu về bản chất truyền thống
cách mạng vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam như sau:
Một là: Trung thành vô hạn với Tô quốc
Việt Nam xà hội chủ nghĩa, với Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Hai là: Quyết chiến, quyết thẳng, biết
đánh và biết thẳng.
Ba là: Gắn bó máu thịt với nhân dân,
quân với dân một ý chí.
Bốn là: Đoàn kết nội bộ, cán bộ, chiên
sĩ bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, thương yêu giúp đỡ nhau, trên dưới đồng
lòng, thống nhất ý chí và hành động.
Nàm là: Kỷ luật tự giác nghiêm minh.
Sáu là: Độc lập tự chủ, tự lực, tự cường,
cần kiệm xây dựng quân đội, xây dựng đất nước, tôn trọng và bảo vệ của công.
Bẩy là: Lối sống trong sạch, lành mạnh,
có văn hóa, trung thực, khiêm tốn, giản
dị, lạc quan.
Tám là: Luôn luôn nêu cao tinh thần ham
học, cầu tiên bộ.
Chín là: Đoàn kết quốc tế trong sáng, thủy
chung, chí nghĩa, chí tình.
Kỷ niệm sâu sắc của bản thân về hình ảnh “Bồ đội Cụ Hồ”, và trách nhiệm
của bản thân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Viêt Nam xã hội chủ
nghĩa.
Các anh luôn nở
nụ cười trước mọi khó khăn, gian khó, dũng cảm, phi thường sát cánh bên nhân
dân, xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc, không những vì sự nghiệp bảo vệ quê
hương, đất nước mà các anh cũng luôn chăm lo đến đời sống nhân dân, giúp dân
trong lao động sản xuất. Đoàn kết, và xây dựng mối liên kết quân với dân một
lòng, thân thiện, chân tình, gần gũi “Đi dân nhớ, ở dân thương”, không ngại ngần
gian khó, đi bất cứ đâu, biên giới xa xôi cho tới biển đảo, trong vùng trời Việt
Nam, nơi đâu có người dân của mình.
Các anh luôn
mang trong mình tinh thần yêu nước, thương dân,
kiên cường, bất khuất, dũng cảm trước quân xâm lược, trung thành với Đảng,
một lòng, một dạ với nhân dân. Giữ chắc tay súng gìn giữ vùng trời Việt Nam,
cho các em thơ ngon giấc, vui bước tới trường, đôi lứa hẹn hò hạnh phúc, cho
các cụ già vui vầy bên con cháu, cho mọi người yên tâm hăng say lao động sản xuất,
lo cho gia đình, cho thôn xóm, cho đất nước bình yên. Các anh luôn giữ chắc tay
súng nơi biên giới xa xôi với tổng chiều dài 4.639 km trên bộ và với 3.444 km bờ biển. Hình tượng các anh luôn
toát lên trí khí kiên cường, hiên ngang, bất khuất mà tôi luôn nể phục, tiếp bước
các anh, những người chiến sỹ.
Trong cuộc sống
thường ngày hình ảnh các anh luôn hiên ngang, bất khuất và đẹp đẽ, hình ảnh các
anh thật luôn lung linh và sáng chói qua từng lời thơ, câu hát. Khiến mọi trái
tim cồn cào xao động mỗi khi nghe những bài hát về anh:
“Một ba lô,
cây súng trên vai,
Người chiến sĩ quen với gian lao,
Ngày dài đêm
thâu vẫn có những người lính trẻ,
Nặng tình quê
hương canh giữ miền đất mẹ…”
Ngược dòng lịch
sử, từ cây đa Tân Trào, với lực lượng 34 chiến sĩ, trải qua muôn vàn gian khó,
hi sinh , được Bác Hồ kính yêu dìu dắt , đưa đường, chỉ lối, quân đội ta đã lớn
mạnh như vũ bão.Từ hình ảnh anh vệ quốc
đoàn năm xưa đến hình ảnh anh giải phóng quân-anh bộ đội Cụ Hồ đều soi bóng, với những vẻ đẹp kì diệu biết bao nhiêu .Tổ quốc
ca ngợi anh, nhân dân ca ngợi anh bằng những những vần thơ đẹp nhất, trân trọng
nhất :
“ Rất đẹp hình
anh lúc nắng chiều
Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo
Núi không đè nổi vai vươn tới
Lá ngụy trang reo với gió đèo “
Bình dị là thế,
hiền lành là thế nhưng rất phi thường, dũng cảm, chính các anh đã góp phần quan
trọng làm nên trang sử vàng của dân tộc. Anh bộ đội Cụ Hồ- hình ảnh của những con
người đẹp nhất, mang trong mình những phẩm chất cao đẹp nhất, phát huy cao độ
chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, làm rạng rỡ non sông đất nước ta.
“Anh đi bộ đội
sao trên mũ
Mãi mãi là sao
sáng dẫn đường” (Núi đôi - nhà thơ Vũ Cao)
Có lẽ để gọi
là kỉ niệm sâu sắc cụ thể thì thật là khó, xong kể từ khi bi bô biết hát có lẽ
hình ảnh chú bộ đội đã rất gần gũi và in dấu trong lòng trẻ thơ. Vì vậy, khi
nói hay kể những câu truyện về hình ảnh cao quý đó sẽ biết bao tình cảm và kỉ
niệm sâu sắc về hình ảnh “Bộ đội cụ Hồ” được dựng lên với những kỉ niệm sâu sắc
qua cuộc sống thường ngày, qua câu thơ, tiếng hát, sáng ánh hào quang khí thế, hùng
dũng, hiên ngang mà giản dị và trân thành nhất.
Đó là tình
yêu, là tấm lòng người con đất Việt. Làm sao không yêu, trái tim không lay động
trước một hình tượng mang cả thế giới tâm hồn dân tộc, là sức mạnh để đất nước
trường tồn và phồn vinh. Trái tim tuổi trẻ hôm nay và mai sau sục sôi, nhiệt
huyết noi gương, và tiếp bước. Mãi “Hát về anh”
người chiến sỹ biên cương. “Ðã có những hy sinh khó nói hết bằng lời,
Nên đọng lại trong tôi những nghĩ suy”…
Wednesday, December 3, 2014
Rượi Mẫu sơn - Lạng Sơn
"Lạng Sơn có phố Kỳ Lừa
Có Nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh
Ai lên xứ Lạng cùng anh, bõ công bác mẹ sinh thành ra em
Tay cầm chén rượi nắm nem
Mải vui quên hết lời em dặn dò".
Tay cầm chén rượi nắm nem
Mải vui quên hết lời em dặn dò".
Tuesday, November 4, 2014
Nghị quyết trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam
Ngày
9/6, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (Nghị quyết số 33 - NQ/TW) về xây dựng và
phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất
nước.
NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ LẦN THỨ CHÍN BAN CHẤP HÀNH TRUNG
ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XI
về
xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền
vững đất nước
A - TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN
Sau
15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, sự nghiệp xây dựng và phát
triển văn hóa, con người Việt Nam đã có chuyển biến tích cực, đạt kết quả quan
trọng. Tư duy lý luận về văn hóa có bước phát triển; nhận thức về văn hóa của
các cấp, các ngành và toàn dân được nâng lên. Đời sống văn hóa của nhân dân
ngày càng phong phú, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc được phát
huy, nhiều chuẩn mực văn hóa, đạo đức mới được hình thành. Sản phẩm văn hóa,
văn học nghệ thuật ngày càng phong phú, đa dạng; công nghệ thông tin, nhất là
thông tin đại chúng có bước phát triển mạnh mẽ. Nhiều phong trào, hoạt động văn
hóa đạt được những kết quả cụ thể, thiết thực; phát huy được truyền thống văn
hóa gia đình, dòng họ, cộng đồng... Xã hội hóa hoạt động văn hóa ngày càng được
mở rộng, góp phần đáng kể vào việc xây dựng các thiết chế văn hóa. Nhiều di sản
văn hóa vật thể và phi vật thể được bảo tồn, tôn tạo; nhiều phong tục, tập quán
của đồng bào dân tộc thiểu số được nghiên cứu, sưu tầm và phục dựng; hoạt động
tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân được quan tâm.
Công tác quản lý nhà nước về văn hóa được tăng cường, thể chế văn hóa từng bước
được hoàn thiện. Đội ngũ làm công tác văn hóa, văn nghệ có bước trưởng thành;
quyền tự do sáng tạo của văn nghệ sĩ được tôn trọng. Giao lưu và hợp tác quốc tế
về văn hóa có nhiều khởi sắc.
Tuy
nhiên, so với những thành tựu trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an
ninh, đối ngoại, thành tựu trong lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng; chưa đủ để
tác động có hiệu quả xây dựng con người và môi trường văn hóa lành mạnh. Tình
trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã
hội có chiều hướng gia tăng. Đời sống văn hóa tinh thần ở nhiều nơi còn nghèo
nàn, đơn điệu; khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa với
đô thị và trong các tầng lớp nhân dân chậm được rút ngắn. Môi trường văn hóa
còn tồn tại tình trạng thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục;
tệ nạn xã hội, tội phạm có chiều hướng gia tăng. Còn ít những tác phẩm văn học,
nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, có một số tác phẩm chạy
theo thị hiếu tầm thường, chất lượng thấp, thậm chí có hại. Hoạt động lý luận,
phê bình văn học, nghệ thuật chưa theo kịp thực tiễn sáng tác. Việc bảo tồn,
phát huy giá trị di sản văn hóa hiệu quả chưa cao, nguy cơ mai một chưa được
ngăn chặn. Hệ thống thông tin đại chúng phát triển thiếu quy hoạch khoa học,
gây lãng phí nguồn lực và quản lý không theo kịp sự phát triển. Một số cơ quan
truyền thông có biểu hiện thương mại hóa, xa rời tôn chỉ, mục đích. Cơ chế,
chính sách về kinh tế trong văn hóa, văn hóa trong kinh tế, về huy động, quản
lý các nguồn lực cho văn hóa chưa cụ thể, rõ ràng. Hệ thống thiết chế văn hóa
và cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động văn hóa còn thiếu và yếu, có nơi xuống
cấp, thiếu đồng bộ, hiệu quả sử dụng thấp. Công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí
cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa các cấp, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao
còn nhiều hạn chế, bất cập. Tình trạng nhập khẩu, quảng bá, tiếp thu dễ dãi,
thiếu chọn lọc sản phẩm văn hóa nước ngoài đã tác động tiêu cực đến đời sống
văn hóa của một bộ phận nhân dân, nhất là lớp trẻ.
Nguyên
nhân của những hạn chế, yếu kém trên đây chủ yếu là do nhiều cấp ủy, chính quyền
chưa quan tâm đầy đủ lĩnh vực này; lãnh đạo, chỉ đạo chưa thật quyết liệt. Việc
cụ thể hóa, thể chế hóa Nghị quyết của Đảng còn chậm, thiếu đồng bộ và trong một
số trường hợp thiếu khả thi. Công tác quản lý nhà nước về văn hóa chậm được đổi
mới, có lúc, có nơi bị xem nhẹ, thậm chí buông lỏng; kỷ luật, kỷ cương không
nghiêm. Đầu tư cho lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng và còn dàn trải. Chưa nắm bắt
kịp thời những vấn đề mới về văn hóa để đầu tư đúng hướng và có hiệu quả. Chưa
quan tâm đúng mức công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực hoạt động
trong lĩnh vực văn hóa, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.
B- ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA, CON NGƯỜI
I-MỤC TIÊU
Mục tiêu chung
Xây
dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân -
thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn
hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh
nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc
vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Mục tiêu cụ thể
-
Hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam, tạo môi trường
và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng
tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ
pháp luật; đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, lương tâm, trách nhiệm của
mỗi người với bản thân mình, với gia đình, cộng đồng, xã hội và đất nước.
-
Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Xây dựng văn hóa
trong hệ thống chính trị, trong từng cộng đồng làng, bản, khu phố, cơ quan, đơn
vị, doanh nghiệp và mỗi gia đình. Phát huy vai trò của gia đình, cộng đồng, xã
hội trong việc xây dựng môi trường văn hóa, làm cho văn hóa trở thành nhân tố
thúc đẩy con người Việt Nam hoàn thiện nhân cách.
-
Hoàn thiện thể chế, chế định pháp lý và thiết chế văn hóa bảo đảm xây dựng và
phát triển văn hóa, con người trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và hội nhập quốc tế.
-
Xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh, đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa,
tăng cường quảng bá văn hóa Việt Nam.
-
Từng bước thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa thành thị và nông thôn,
giữa các vùng miền và các giai tầng xã hội. Ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về
đạo đức xã hội.
II- QUAN ĐIỂM
1-Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội,
là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt
ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội.
2- Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến,
đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt
Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học.
3- Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện
nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Trong xây
dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống
tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực,
đoàn kết, cần cù, sáng tạo.
4 - Xây dựng đồng bộ môi trường văn
hóa, trong đó chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng. Phát triển hài
hòa giữa kinh tế và văn hóa; cần chú ý đầy đủ đến yếu tố văn hóa và con người
trong phát triển kinh tế.
5- Xây dựng và phát triển văn hóa là sự
nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể
sáng tạo, đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.
III- NHIỆM VỤ
1-Xây dựng con người Việt Nam phát triển
toàn diện
Chăm lo xây dựng con người Việt Nam phát triển
toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc,
đạo đức, lối sống và nhân cách. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý
thức tôn trọng pháp luật, mọi người Việt Nam đều hiểu biết sâu sắc, tự
hào, tôn vinh lịch sử, văn hóa dân tộc.
Hướng
các hoạt động văn hóa, giáo dục, khoa học vào việc xây dựng con người có
thế giới quan khoa học, hướng tới chân - thiện - mỹ. Gắn xây dựng, rèn luyện
đạo đức với thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
Nâng cao trí lực, bồi dưỡng tri thức cho con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, của
kinh tế tri thức và xã hội học tập. Đúc kết và xây dựng hệ giá trị chuẩn của
con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Xây
dựng và phát huy lối sống "Mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người";
hình thành lối sống có ý thức tự trọng, tự chủ, sống và làm việc theo Hiến pháp
và pháp luật, bảo vệ môi trường; kết hợp hài hòa tính tích cực cá nhân và tính
tích cực xã hội; đề cao trách nhiệm cá nhân đối với bản thân, gia đình và xã hội.
Khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng; nhân rộng các
giá trị cao đẹp, nhân văn.
Tăng
cường giáo dục nghệ thuật, nâng cao năng lực cảm thụ thẩm mỹ cho nhân dân, đặc
biệt là thanh niên, thiếu niên. Phát huy vai trò của văn học - nghệ thuật trong
việc bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm của con người. Bảo đảm quyền hưởng thụ và sáng
tạo văn hóa của mỗi người dân và của cộng đồng.
Nâng
cao thể lực, tầm vóc con người Việt Nam, gắn giáo dục thể chất với giáo dục tri
thức, đạo đức, kỹ năng sống, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đấu
tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm,
hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến xây dựng nền văn hóa, làm tha hóa
con người. Có giải pháp khắc phục những mặt hạn chế của con người Việt Nam.
2- Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh
Mỗi
địa phương, cộng đồng, cơ quan, đơn vị, tổ chức phải là một môi trường văn hóa
lành mạnh, góp phần giáo dục, rèn luyện con người về nhân cách, lối sống. Gắn kết
xây dựng môi trường văn hóa với bảo vệ môi trường sinh thái. Đưa nội dung giáo
dục đạo đức con người, đạo đức công dân vào các hoạt động giáo dục của xã hội.
Thực
hiện chiến lược phát triển gia đình Việt Nam, xây dựng gia đình thực sự là nơi
hình thành, nuôi dưỡng nhân cách văn hóa và giáo dục nếp sống cho con người.
Phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh
phúc, văn minh. Xây dựng và nhân rộng các mô hình gia đình văn hóa tiêu biểu,
có nền nếp, ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo, vợ chồng hòa thuận, anh
chị em đoàn kết, thương yêu nhau. Xây dựng mỗi trường học phải thực sự là một
trung tâm văn hóa giáo dục, rèn luyện con người về lý tưởng, phẩm chất, nhân
cách, lối sống; giáo dục truyền thống văn hóa cho thế hệ trẻ. Xây dựng đời sống
văn hóa ở địa bàn dân cư, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đoàn kết, dân chủ,
văn minh, đạt chuẩn thực chất về văn hóa; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở;
xây dựng nếp sống văn hóa tiến bộ, văn minh, nhất là trong việc cưới, việc
tang, lễ hội. Nâng cao chất lượng, hiệu quả các cuộc vận động văn hóa, phong
trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa".
Gắn
các hoạt động văn hóa với phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an
ninh, với chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh. Từng bước thu hẹp
khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa các vùng miền, giữa các giai tầng xã hội, giữa
thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, vùng sâu, vùng xa. Xây dựng,
hoàn thiện đi đôi với nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các thiết chế
văn hóa. Tạo điều kiện để nhân dân chủ động tổ chức các hoạt động văn hóa cộng
đồng.
Phát
huy các giá trị, nhân tố tích cực trong văn hóa tôn giáo, tín ngưỡng; khuyến
khích các hoạt động tôn giáo gắn bó với dân tộc, hướng thiện, nhân đạo, nhân
văn, tiến bộ, "tốt đời, đẹp đạo". Khuyến khích các hoạt động "đền
ơn đáp nghĩa", "uống nước nhớ nguồn", từ thiện, nhân đạo.
3- Xây dựng văn hóa trong chính trị và
kinh tế
Chú
trọng chăm lo xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước và các
đoàn thể; coi đây là nhân tố quan trọng để xây dựng hệ thống chính trị trong sạch,
vững mạnh. Trong đó, trọng tâm là xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức,
viên chức có phẩm chất đạo đức, tận tuỵ, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ
nhân dân, gắn bó máu thịt với nhân dân; có ý thức thượng tôn pháp luật, dân chủ
đi đôi với kỷ luật, kỷ cương; tự do cá nhân gắn với trách nhiệm xã hội và nghĩa
vụ công dân. Ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo
đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, công chức, đảng viên.
Thường
xuyên quan tâm xây dựng văn hóa trong kinh tế. Con người thực sự là trung tâm
trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Tạo lập môi trường văn hóa pháp
lý, thị trường sản phẩm văn hóa minh bạch, tiến bộ, hiện đại để các doanh nghiệp
tham gia xây dựng, phát triển văn hóa. Xây dựng văn hóa doanh nghiệp, văn hóa doanh
nhân với ý thức tôn trọng pháp luật, giữ chữ tín, cạnh tranh lành mạnh, vì sự
phát triển bền vững và bảo vệ Tổ quốc.
Phát
huy ý thức và tinh thần dân tộc, động viên toàn dân, trước hết là các doanh
nghiệp, doanh nhân xây dựng và phát triển các thương hiệu Việt Nam có uy tín
trên thị trường trong nước và quốc tế.
4- Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động
văn hóa
Huy
động sức mạnh của toàn xã hội nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền
thống, khích lệ sáng tạo các giá trị văn hóa mới, tiếp thu tinh hoa văn hóa
nhân loại, làm giàu văn hóa dân tộc.
Xây
dựng cơ chế để giải quyết hợp lý, hài hòa giữa bảo tồn, phát huy di sản v ă n
hóa với phát triển kinh tế - xã hội. Bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử-văn
hóa tiêu biểu, phục vụ giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế; gắn kết bảo
tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển du lịch. Phục hồi và bảo tồn một số
loại hình nghệ thuật truyền thống có nguy cơ mai một. Phát huy các di sản được
UNESCO công nhận, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam.
Phát
triển đi đôi với giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt; khắc phục tình trạng
lạm dụng tiếng nước ngoài. Giữ gìn và phát huy di sản văn hóa các
dân tộc thiểu số, nhất là tiếng nói, chữ viết, trang phục, lễ hội
truyền thống; các giá trị văn hóa tích cực trong tôn giáo, tín ngưỡng.
Phát
triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật, tạo mọi điều kiện cho sự tìm tòi, sáng tạo
của đội ngũ văn nghệ sĩ để có nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật,
thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân tộc, dân chủ, tiến bộ, phản ảnh chân thật,
sinh động, sâu sắc đời sống, lịch sử dân tộc và công cuộc đổi mới đất nước. Đẩy
mạnh sáng tác, quảng bá tác phẩm, công trình về đề tài cách mạng, kháng
chiến, lịch sử dân tộc, công cuộc đổi mới đất nước. Từng bước xây dựng hệ
thống lý luận văn học, nghệ thuật Việt Nam.
Đổi
mới phương thức hoạt động của các hội văn học, nghệ thuật nhằm tập hợp, tạo điều
kiện để văn nghệ sĩ hoạt động tích cực, hiệu quả. Khuyến khích nhân dân sáng tạo,
trao truyền và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc.
Có
cơ chế khuyến khích văn nghệ sĩ, nghệ nhân phát huy tài năng, năng lực sáng
tác, quảng bá văn học, nghệ thuật với ý thức đầy đủ về trách nhiệm xã hội và
nghĩa vụ công dân của mình. Trọng dụng, tôn vinh trí thức, văn nghệ sĩ, nghệ
nhân trên cơ sở cống hiến cho đất nước. Chú trọng phát triển năng khiếu và tài
năng trẻ.
Quy
hoạch, sắp xếp lại hệ thống báo chí đáp ứng yêu cầu phát triển, bảo đảm thiết
thực, hiệu quả. Chú trọng công tác quản lý các loại hình thông tin trên mạng
Internet để định hướng tư tưởng và thẩm mỹ cho nhân dân, nhất là cho thanh
niên, thiếu niên. Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động và cơ chế đầu tư theo
hướng ưu tiên các cơ quan báo chí, truyền thông chủ lực. Các cơ quan truyền
thông phải thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, đối tượng phục vụ chủ yếu; nâng
cao tính tư tưởng, nhân văn và khoa học, góp phần xây dựng nền văn hóa và con
người Việt Nam.
5- Phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi
với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa.
Phát
triển công nghiệp văn hóa nhằm khai thác và phát huy những tiềm năng và giá trị
đặc sắc của văn hóa Việt Nam; khuyến khích xuất khẩu sản phẩm văn hóa, góp phần
quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Có
cơ chế khuyến khích đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ
tiên tiến để nâng cao chất lượng sản phẩm văn hóa. Tạo thuận lợi cho các doanh
nghiệp văn hóa, văn nghệ, thể thao, du lịch thu hút các nguồn lực xã hội để
phát triển.
Đổi
mới, hoàn thiện thể chế, tạo môi trường pháp lý thuận lợi để xây dựng, phát triển
thị trường văn hóa và công nghiệp văn hóa.
Nâng
cao ý thức thực thi các quy định pháp luật về quyền tác giả và các quyền liên
quan trong toàn xã hội. Củng cố và tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ
quan quản lý và cơ quan thực thi quyền tác giả từ Trung ương đến địa phương.
6- Chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa,
tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại
Chủ
động mở rộng hợp tác văn hóa với các nước, thực hiện đa dạng các hình thức văn
hóa đối ngoại, đưa các quan hệ quốc tế về văn hóa đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả
thiết thực; tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, làm phong phú thêm
văn hóa dân tộc.
Phát
huy tài năng, tâm huyết của trí thức, văn nghệ sĩ người Việt Nam ở nước ngoài
trong việc tham gia phát triển văn hóa của đất nước, trở thành cầu nối quảng bá
hình ảnh đất nước, văn hóa, con người Việt Nam. Chú trọng truyền bá văn hóa Việt
Nam, dạy tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài ở Việt
Nam. Xây dựng một số trung tâm văn hóa Việt Nam ở nước ngoài và trung tâm dịch
thuật, quảng bá văn hóa Việt Nam ra nước ngoài.
Chủ
động đón nhận cơ hội phát triển, vượt qua các thách thức để giữ gìn, hoàn thiện
bản sắc văn hóa dân tộc; hạn chế, khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực, mặt trái
của toàn cầu hóa về văn hóa.
Xây
dựng cơ chế, chính sách phát triển văn hóa đối ngoại; hỗ trợ quảng bá nghệ thuật
quốc gia và xuất khẩu các sản phẩm văn hóa ra nước ngoài.
IV- GIẢI PHÁP
1-Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo
của Đảng đối với lĩnh vực văn hóa
Các
cấp ủy, tổ chức đảng cần xác định xây dựng và phát triển vǎn hóa, con người Việt
Nam là một nhiệm vụ quan trọng trong suốt thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước. Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong Đảng, hệ
thống chính trị và toàn xã hội về vị trí, vai trò của sự nghiệp xây dựng và
phát triển văn hóa, con người Việt Nam. Mỗi cán bộ, đảng viên nêu cao vai trò
gương mẫu, động viên, tổ chức nhân dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết.
Đổi
mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng vừa bảo đảm để vǎn hóa, vǎn học -
nghệ thuật, báo chí phát triển đúng định hướng chính trị, tư tưởng của Đảng, vừa
bảo đảm quyền tự do, dân chủ cá nhân trong sáng tạo trên cơ sở phát huy tính tự
giác cao với mục đích đúng đắn; khắc phục tình trạng buông lỏng sự lãnh đạo hoặc
mất dân chủ, hạn chế tự do sáng tạo.
Phải
coi trọng xây dựng vǎn hóa từ trong Đảng, trong bộ máy nhà nước, mà nội dung
quan trọng là học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Vǎn hóa, đạo đức và lối sống lành mạnh phải được thể hiện trước hết trong mọi tổ
chức Đảng, Nhà nước, đoàn thể, trong cán bộ, công chức, viên chức nhà nước,
trong từng đảng viên, hội viên. Sự gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên là yêu cầu
quan trọng trong công tác lãnh đạo của Đảng.
2- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý
nhà nước về văn hóa
Tập
trung đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa trong điều
kiện phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và sự bùng nổ của công nghệ
thông tin và truyền thông. Đẩy nhanh việc thể chế hóa, cụ thể hóa các quan điểm,
đường lối của Đảng về văn hóa. Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật,
cơ chế, chính sách về văn hóa, về quyền tác giả và các quyền liên quan, phù hợp
với chuẩn mực quốc tế và thực tiễn Việt Nam.
Điều
chỉnh và hoàn thiện cơ chế, chính sách phù hợp với tính đặc thù của văn hóa,
nghệ thuật. Bổ sung chính sách kinh tế trong văn hóa, văn hóa trong kinh tế, xử
lý hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa; có chính
sách văn hóa đặc thù đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
Đẩy
mạnh quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý, tổ chức và hoạt động của các đơn vị sự
nghiệp văn hóa, các hội nghề nghiệp trong lĩnh vực văn hóa theo hướng tự chủ, tự
chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Thúc đẩy cổ phần hóa các doanh
nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực văn hóa.
Tăng
cường công tác thanh tra văn hóa, gắn với trách nhiệm cá nhân và tổ chức khi để
xảy ra sai phạm. Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của các tổ chức xã
hội, cộng đồng dân cư và công dân đối với việc tổ chức và quản lý hoạt động văn
hóa.
Chủ
động đấu tranh phòng, chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức,
"tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trên lĩnh vực văn hóa. Ngăn
chặn có hiệu quả tình trạng một bộ phận báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ hoạt
động không đúng tôn chỉ, mục đích, sản phẩm lệch lạc, thị hiếu tầm thường.
3- Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác
văn hóa
Xây
dựng chiến lược phát triển đội ngũ cán bộ văn hóa. Coi trọng quy hoạch, đào tạo,
bồi dưỡng, bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa, cán bộ làm công tác khoa học,
chuyên gia đầu ngành, cán bộ ở cơ sở.
Quan
tâm xây dựng các trường văn hóa, nghệ thuật, tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng
và quy mô đào tạo. Hình thành một số cơ sở đào tạo đại học, trên đại học trọng
điểm, đạt chuẩn khu vực và quốc tế.
Đổi
mới đào tạo, bồi dưỡng cán bộ văn hóa theo hướng hiện đại và hội nhập quốc tế.
Tiếp tục gửi sinh viên, cán bộ đi đào tạo chuyên ngành văn hóa, nghệ thuật,
thể thao ở các nước phát triển. Xây dựng đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ trong
các dân tộc thiểu số, có chính sách khuyến khích họ trở về công tác tại địa
phương. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên giảng dạy các chuyên
ngành văn hóa.
Có
chính sách phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh cán bộ trong lĩnh
vực văn hóa, nghệ thuật; trọng dụng người có tài, có đức. Điều chỉnh chế độ tiền
lương, trợ cấp đối với những người hoạt động trong các bộ môn nghệ thuật đặc
thù.
4- Tăng cường nguồn lực cho lĩnh vực văn
hóa
Mức
đầu tư của Nhà nước cho văn hóa phải tương ứng với mức tăng trưởng kinh tế. Sử
dụng hiệu quả, công khai, minh bạch nguồn đầu tư của Nhà nước, có trọng tâm, trọng
điểm, ưu tiên các vùng miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu
số và một số loại hình nghệ thuật truyền thống cần bảo tồn, phát huy.
Đẩy
mạnh xã hội hóa nhằm huy động các nguồn đầu tư, tài trợ, hiến tặng cho phát triển
văn hóa, xây dựng con người.
Xây
dựng cơ chế, chính sách ưu đãi về đất, tín dụng, thuế và phí đối với các cơ sở
đào tạo và thiết chế văn hóa do khu vực tư nhân đầu tư, đặc biệt là ở vùng còn
khó khăn. Khuyến khích hình thành các quỹ đào tạo, khuyến học, phát triển nhân
tài, quảng bá văn học nghệ thuật, phát triển điện ảnh, hỗ trợ xuất bản...
Xây
dựng một số công trình văn hóa trọng điểm. Các địa phương, các cơ quan, công sở,
trường học, khu công nghiệp, doanh nghiệp, khu dân cư... có thiết chế văn hóa
phù hợp (thư viện, nhà văn hóa, công trình thể thao...).
Tăng
cường đầu tư để đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để nâng cao khả
năng dự báo và định hướng phát triển văn hóa, xây dựng con người.
V- TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1-Các cấp ủy, tổ chức đảng tổ chức việc
học tập và triển khai thực hiện Nghị quyết.
2-Đảng đoàn Quốc hội lãnh đạo việc sửa đổi,
bổ sung, ban hành mới hệ thống pháp luật về văn hóa, tạo cơ sở pháp lý cho việc
thực hiện Nghị quyết và giám sát việc thực hiện.
3- Ban cán sự đảng Chính phủ lãnh đạo việc
sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản dưới luật; chỉ đạo tổ chức tốt việc
thi hành pháp luật; thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện và
kịp thời điều chỉnh các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, phù hợp với yêu cầu thực tế,
bảo đảm thực hiện có hiệu quả Nghị quyết.
4- Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối
hợp với các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương
tổ chức quán triệt, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết và định kỳ
báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư kết quả thực hiện Nghị quyết.
Theo:
chinhphu.vn
Subscribe to:
Posts (Atom)























