Tuesday, November 4, 2014

Nghị quyết trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam

           Ngày 9/6, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (Nghị quyết số 33 - NQ/TW) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.
NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ LẦN THỨ CHÍN BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XI
     về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước

A - TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN
Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đã có chuyển biến tích cực, đạt kết quả quan trọng. Tư duy lý luận về văn hóa có bước phát triển; nhận thức về văn hóa của các cấp, các ngành và toàn dân được nâng lên. Đời sống văn hóa của nhân dân ngày càng phong phú, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc được phát huy, nhiều chuẩn mực văn hóa, đạo đức mới được hình thành. Sản phẩm văn hóa, văn học nghệ thuật ngày càng phong phú, đa dạng; công nghệ thông tin, nhất là thông tin đại chúng có bước phát triển mạnh mẽ. Nhiều phong trào, hoạt động văn hóa đạt được những kết quả cụ thể, thiết thực; phát huy được truyền thống văn hóa gia đình, dòng họ, cộng đồng... Xã hội hóa hoạt động văn hóa ngày càng được mở rộng, góp phần đáng kể vào việc xây dựng các thiết chế văn hóa. Nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được bảo tồn, tôn tạo; nhiều phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số được nghiên cứu, sưu tầm và phục dựng; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân được quan tâm. Công tác quản lý nhà nước về văn hóa được tăng cường, thể chế văn hóa từng bước được hoàn thiện. Đội ngũ làm công tác văn hóa, văn nghệ có bước trưởng thành; quyền tự do sáng tạo của văn nghệ sĩ được tôn trọng. Giao lưu và hợp tác quốc tế về văn hóa có nhiều khởi sắc.

Tuy nhiên, so với những thành tựu trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thành tựu trong lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng; chưa đủ để tác động có hiệu quả xây dựng con người và môi trường văn hóa lành mạnh. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội có chiều hướng gia tăng. Đời sống văn hóa tinh thần ở nhiều nơi còn nghèo nàn, đơn điệu; khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa với đô thị và trong các tầng lớp nhân dân chậm được rút ngắn. Môi trường văn hóa còn tồn tại tình trạng thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục; tệ nạn xã hội, tội phạm có chiều hướng gia tăng. Còn ít những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, có một số tác phẩm chạy theo thị hiếu tầm thường, chất lượng thấp, thậm chí có hại. Hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật chưa theo kịp thực tiễn sáng tác. Việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa hiệu quả chưa cao, nguy cơ mai một chưa được ngăn chặn. Hệ thống thông tin đại chúng phát triển thiếu quy hoạch khoa học, gây lãng phí nguồn lực và quản lý không theo kịp sự phát triển. Một số cơ quan truyền thông có biểu hiện thương mại hóa, xa rời tôn chỉ, mục đích. Cơ chế, chính sách về kinh tế trong văn hóa, văn hóa trong kinh tế, về huy động, quản lý các nguồn lực cho văn hóa chưa cụ thể, rõ ràng. Hệ thống thiết chế văn hóa và cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động văn hóa còn thiếu và yếu, có nơi xuống cấp, thiếu đồng bộ, hiệu quả sử dụng thấp. Công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa các cấp, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao còn nhiều hạn chế, bất cập. Tình trạng nhập khẩu, quảng bá, tiếp thu dễ dãi, thiếu chọn lọc sản phẩm văn hóa nước ngoài đã tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa của một bộ phận nhân dân, nhất là lớp trẻ.
Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém trên đây chủ yếu là do nhiều cấp ủy, chính quyền chưa quan tâm đầy đủ lĩnh vực này; lãnh đạo, chỉ đạo chưa thật quyết liệt. Việc cụ thể hóa, thể chế hóa Nghị quyết của Đảng còn chậm, thiếu đồng bộ và trong một số trường hợp thiếu khả thi. Công tác quản lý nhà nước về văn hóa chậm được đổi mới, có lúc, có nơi bị xem nhẹ, thậm chí buông lỏng; kỷ luật, kỷ cương không nghiêm. Đầu tư cho lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng và còn dàn trải. Chưa nắm bắt kịp thời những vấn đề mới về văn hóa để đầu tư đúng hướng và có hiệu quả. Chưa quan tâm đúng mức công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.
B- ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA, CON NGƯỜI
I-MỤC TIÊU
Mục tiêu chung
Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Mục tiêu cụ thể
- Hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam, tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật; đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, lương tâm, trách nhiệm của mỗi người với bản thân mình, với gia đình, cộng đồng, xã hội và đất nước.
- Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Xây dựng văn hóa trong hệ thống chính trị, trong từng cộng đồng làng, bản, khu phố, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và mỗi gia đình. Phát huy vai trò của gia đình, cộng đồng, xã hội trong việc xây dựng môi trường văn hóa, làm cho văn hóa trở thành nhân tố thúc đẩy con người Việt Nam hoàn thiện nhân cách.
- Hoàn thiện thể chế, chế định pháp lý và thiết chế văn hóa bảo đảm xây dựng và phát triển văn hóa, con người trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
- Xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh, đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa, tăng cường quảng bá văn hóa Việt Nam.
- Từng bước thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền và các giai tầng xã hội. Ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội.
II- QUAN ĐIỂM
1-Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội.

2- Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học.
3- Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo.
4 - Xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, trong đó chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng. Phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa; cần chú ý đầy đủ đến yếu tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế.
5- Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo, đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.
III- NHIỆM VỤ
1-Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện
Chăm lo xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật, mọi người Việt Nam đều hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn hóa dân tộc.
Hướng các hoạt động văn hóa, giáo dục, khoa học vào việc xây dựng con người có thế giới quan khoa học, hướng tới chân - thiện - mỹ. Gắn xây dựng, rèn luyện đạo đức với thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Nâng cao trí lực, bồi dưỡng tri thức cho con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, của kinh tế tri thức và xã hội học tập. Đúc kết và xây dựng hệ giá trị chuẩn của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Xây dựng và phát huy lối sống "Mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người"; hình thành lối sống có ý thức tự trọng, tự chủ, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ môi trường; kết hợp hài hòa tính tích cực cá nhân và tính tích cực xã hội; đề cao trách nhiệm cá nhân đối với bản thân, gia đình và xã hội. Khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng; nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân văn.
Tăng cường giáo dục nghệ thuật, nâng cao năng lực cảm thụ thẩm mỹ cho nhân dân, đặc biệt là thanh niên, thiếu niên. Phát huy vai trò của văn học - nghệ thuật trong việc bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm của con người. Bảo đảm quyền hưởng thụ và sáng tạo văn hóa của mỗi người dân và của cộng đồng.
Nâng cao thể lực, tầm vóc con người Việt Nam, gắn giáo dục thể chất với giáo dục tri thức, đạo đức, kỹ năng sống, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến xây dựng nền văn hóa, làm tha hóa con người. Có giải pháp khắc phục những mặt hạn chế của con người Việt Nam.
2- Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh
Mỗi địa phương, cộng đồng, cơ quan, đơn vị, tổ chức phải là một môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần giáo dục, rèn luyện con người về nhân cách, lối sống. Gắn kết xây dựng môi trường văn hóa với bảo vệ môi trường sinh thái. Đưa nội dung giáo dục đạo đức con người, đạo đức công dân vào các hoạt động giáo dục của xã hội.
Thực hiện chiến lược phát triển gia đình Việt Nam, xây dựng gia đình thực sự là nơi hình thành, nuôi dưỡng nhân cách văn hóa và giáo dục nếp sống cho con người. Phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh. Xây dựng và nhân rộng các mô hình gia đình văn hóa tiêu biểu, có nền nếp, ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo, vợ chồng hòa thuận, anh chị em đoàn kết, thương yêu nhau. Xây dựng mỗi trường học phải thực sự là một trung tâm văn hóa giáo dục, rèn luyện con người về lý tưởng, phẩm chất, nhân cách, lối sống; giáo dục truyền thống văn hóa cho thế hệ trẻ. Xây dựng đời sống văn hóa ở địa bàn dân cư, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đoàn kết, dân chủ, văn minh, đạt chuẩn thực chất về văn hóa; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở; xây dựng nếp sống văn hóa tiến bộ, văn minh, nhất là trong việc cưới, việc tang, lễ hội. Nâng cao chất lượng, hiệu quả các cuộc vận động văn hóa, phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa".
Gắn các hoạt động văn hóa với phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, với chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh. Từng bước thu hẹp khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa các vùng miền, giữa các giai tầng xã hội, giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, vùng sâu, vùng xa. Xây dựng, hoàn thiện đi đôi với nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hóa. Tạo điều kiện để nhân dân chủ động tổ chức các hoạt động văn hóa cộng đồng.
Phát huy các giá trị, nhân tố tích cực trong văn hóa tôn giáo, tín ngưỡng; khuyến khích các hoạt động tôn giáo gắn bó với dân tộc, hướng thiện, nhân đạo, nhân văn, tiến bộ, "tốt đời, đẹp đạo". Khuyến khích các hoạt động "đền ơn đáp nghĩa", "uống nước nhớ nguồn", từ thiện, nhân đạo.
3- Xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế
Chú trọng chăm lo xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước và các đoàn thể; coi đây là nhân tố quan trọng để xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Trong đó, trọng tâm là xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức, tận tuỵ, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, gắn bó máu thịt với nhân dân; có ý thức thượng tôn pháp luật, dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương; tự do cá nhân gắn với trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân. Ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, công chức, đảng viên.
Thường xuyên quan tâm xây dựng văn hóa trong kinh tế. Con người thực sự là trung tâm trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Tạo lập môi trường văn hóa pháp lý, thị trường sản phẩm văn hóa minh bạch, tiến bộ, hiện đại để các doanh nghiệp tham gia xây dựng, phát triển văn hóa. Xây dựng văn hóa doanh nghiệp, văn hóa doanh nhân với ý thức tôn trọng pháp luật, giữ chữ tín, cạnh tranh lành mạnh, vì sự phát triển bền vững và bảo vệ Tổ quốc.
Phát huy ý thức và tinh thần dân tộc, động viên toàn dân, trước hết là các doanh nghiệp, doanh nhân xây dựng và phát triển các thương hiệu Việt Nam có uy tín trên thị trường trong nước và quốc tế.
4- Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động văn hóa
Huy động sức mạnh của toàn xã hội nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, khích lệ sáng tạo các giá trị văn hóa mới, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm giàu văn hóa dân tộc.
Xây dựng cơ chế để giải quyết hợp lý, hài hòa giữa bảo tồn, phát huy di sản v ă n hóa với phát triển kinh tế - xã hội. Bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử-văn hóa tiêu biểu, phục vụ giáo dục truyền thống và phát triển kinh tế; gắn kết bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển du lịch. Phục hồi và bảo tồn một số loại hình nghệ thuật truyền thống có nguy cơ mai một. Phát huy các di sản được UNESCO công nhận, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam.
Phát triển đi đôi với giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt; khắc phục tình trạng lạm dụng tiếng nước ngoài. Giữ gìn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc thiểu số, nhất là tiếng nói, chữ viết, trang phục, lễ hội truyền thống; các giá trị văn hóa tích cực trong tôn giáo, tín ngưỡng.
Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật, tạo mọi điều kiện cho sự tìm tòi, sáng tạo của đội ngũ văn nghệ sĩ để có nhiều tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật, thấm nhuần tinh thần nhân văn, dân tộc, dân chủ, tiến bộ, phản ảnh chân thật, sinh động, sâu sắc đời sống, lịch sử dân tộc và công cuộc đổi mới đất nước. Đẩy mạnh sáng tác, quảng bá tác phẩm, công trình về đề tài cách mạng, kháng chiến, lịch sử dân tộc, công cuộc đổi mới đất nước. Từng bước xây dựng hệ thống lý luận văn học, nghệ thuật Việt Nam.
Đổi mới phương thức hoạt động của các hội văn học, nghệ thuật nhằm tập hợp, tạo điều kiện để văn nghệ sĩ hoạt động tích cực, hiệu quả. Khuyến khích nhân dân sáng tạo, trao truyền và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc.
Có cơ chế khuyến khích văn nghệ sĩ, nghệ nhân phát huy tài năng, năng lực sáng tác, quảng bá văn học, nghệ thuật với ý thức đầy đủ về trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân của mình. Trọng dụng, tôn vinh trí thức, văn nghệ sĩ, nghệ nhân trên cơ sở cống hiến cho đất nước. Chú trọng phát triển năng khiếu và tài năng trẻ.
Quy hoạch, sắp xếp lại hệ thống báo chí đáp ứng yêu cầu phát triển, bảo đảm thiết thực, hiệu quả. Chú trọng công tác quản lý các loại hình thông tin trên mạng Internet để định hướng tư tưởng và thẩm mỹ cho nhân dân, nhất là cho thanh niên, thiếu niên. Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động và cơ chế đầu tư theo hướng ưu tiên các cơ quan báo chí, truyền thông chủ lực. Các cơ quan truyền thông phải thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, đối tượng phục vụ chủ yếu; nâng cao tính tư tưởng, nhân văn và khoa học, góp phần xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam.
5- Phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa.
Phát triển công nghiệp văn hóa nhằm khai thác và phát huy những tiềm năng và giá trị đặc sắc của văn hóa Việt Nam; khuyến khích xuất khẩu sản phẩm văn hóa, góp phần quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Có cơ chế khuyến khích đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để nâng cao chất lượng sản phẩm văn hóa. Tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp văn hóa, văn nghệ, thể thao, du lịch thu hút các nguồn lực xã hội để phát triển.
Đổi mới, hoàn thiện thể chế, tạo môi trường pháp lý thuận lợi để xây dựng, phát triển thị trường văn hóa và công nghiệp văn hóa.
Nâng cao ý thức thực thi các quy định pháp luật về quyền tác giả và các quyền liên quan trong toàn xã hội. Củng cố và tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý và cơ quan thực thi quyền tác giả từ Trung ương đến địa phương.
6- Chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại
Chủ động mở rộng hợp tác văn hóa với các nước, thực hiện đa dạng các hình thức văn hóa đối ngoại, đưa các quan hệ quốc tế về văn hóa đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thiết thực; tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, làm phong phú thêm văn hóa dân tộc.
Phát huy tài năng, tâm huyết của trí thức, văn nghệ sĩ người Việt Nam ở nước ngoài trong việc tham gia phát triển văn hóa của đất nước, trở thành cầu nối quảng bá hình ảnh đất nước, văn hóa, con người Việt Nam. Chú trọng truyền bá văn hóa Việt Nam, dạy tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài ở Việt Nam. Xây dựng một số trung tâm văn hóa Việt Nam ở nước ngoài và trung tâm dịch thuật, quảng bá văn hóa Việt Nam ra nước ngoài.
Chủ động đón nhận cơ hội phát triển, vượt qua các thách thức để giữ gìn, hoàn thiện bản sắc văn hóa dân tộc; hạn chế, khắc phục những ảnh hưởng tiêu cực, mặt trái của toàn cầu hóa về văn hóa.
Xây dựng cơ chế, chính sách phát triển văn hóa đối ngoại; hỗ trợ quảng bá nghệ thuật quốc gia và xuất khẩu các sản phẩm văn hóa ra nước ngoài.
IV- GIẢI PHÁP
1-Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn hóa
Các cấp ủy, tổ chức đảng cần xác định xây dựng và phát triển vǎn hóa, con người Việt Nam là một nhiệm vụ quan trọng trong suốt thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội về vị trí, vai trò của sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam. Mỗi cán bộ, đảng viên nêu cao vai trò gương mẫu, động viên, tổ chức nhân dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng vừa bảo đảm để vǎn hóa, vǎn học - nghệ thuật, báo chí phát triển đúng định hướng chính trị, tư tưởng của Đảng, vừa bảo đảm quyền tự do, dân chủ cá nhân trong sáng tạo trên cơ sở phát huy tính tự giác cao với mục đích đúng đắn; khắc phục tình trạng buông lỏng sự lãnh đạo hoặc mất dân chủ, hạn chế tự do sáng tạo.
Phải coi trọng xây dựng vǎn hóa từ trong Đảng, trong bộ máy nhà nước, mà nội dung quan trọng là học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Vǎn hóa, đạo đức và lối sống lành mạnh phải được thể hiện trước hết trong mọi tổ chức Đảng, Nhà nước, đoàn thể, trong cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, trong từng đảng viên, hội viên. Sự gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên là yêu cầu quan trọng trong công tác lãnh đạo của Đảng.
2- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa
Tập trung đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và sự bùng nổ của công nghệ thông tin và truyền thông. Đẩy nhanh việc thể chế hóa, cụ thể hóa các quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa. Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách về văn hóa, về quyền tác giả và các quyền liên quan, phù hợp với chuẩn mực quốc tế và thực tiễn Việt Nam.
Điều chỉnh và hoàn thiện cơ chế, chính sách phù hợp với tính đặc thù của văn hóa, nghệ thuật. Bổ sung chính sách kinh tế trong văn hóa, văn hóa trong kinh tế, xử lý hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa; có chính sách văn hóa đặc thù đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
Đẩy mạnh quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý, tổ chức và hoạt động của các đơn vị sự nghiệp văn hóa, các hội nghề nghiệp trong lĩnh vực văn hóa theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Thúc đẩy cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực văn hóa.
Tăng cường công tác thanh tra văn hóa, gắn với trách nhiệm cá nhân và tổ chức khi để xảy ra sai phạm. Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của các tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư và công dân đối với việc tổ chức và quản lý hoạt động văn hóa.
Chủ động đấu tranh phòng, chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trên lĩnh vực văn hóa. Ngăn chặn có hiệu quả tình trạng một bộ phận báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ hoạt động không đúng tôn chỉ, mục đích, sản phẩm lệch lạc, thị hiếu tầm thường.
3- Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa
Xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ cán bộ văn hóa. Coi trọng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa, cán bộ làm công tác khoa học, chuyên gia đầu ngành, cán bộ ở cơ sở.
Quan tâm xây dựng các trường văn hóa, nghệ thuật, tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng và quy mô đào tạo. Hình thành một số cơ sở đào tạo đại học, trên đại học trọng điểm, đạt chuẩn khu vực và quốc tế.
Đổi mới đào tạo, bồi dưỡng cán bộ văn hóa theo hướng hiện đại và hội nhập quốc tế. Tiếp tục gửi sinh viên, cán bộ đi đào tạo chuyên ngành văn hóa, nghệ thuật, thể thao ở các nước phát triển. Xây dựng đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ trong các dân tộc thiểu số, có chính sách khuyến khích họ trở về công tác tại địa phương. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên giảng dạy các chuyên ngành văn hóa.
Có chính sách phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh cán bộ trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật; trọng dụng người có tài, có đức. Điều chỉnh chế độ tiền lương, trợ cấp đối với những người hoạt động trong các bộ môn nghệ thuật đặc thù.
4- Tăng cường nguồn lực cho lĩnh vực văn hóa
Mức đầu tư của Nhà nước cho văn hóa phải tương ứng với mức tăng trưởng kinh tế. Sử dụng hiệu quả, công khai, minh bạch nguồn đầu tư của Nhà nước, có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên các vùng miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và một số loại hình nghệ thuật truyền thống cần bảo tồn, phát huy.
Đẩy mạnh xã hội hóa nhằm huy động các nguồn đầu tư, tài trợ, hiến tặng cho phát triển văn hóa, xây dựng con người.
Xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi về đất, tín dụng, thuế và phí đối với các cơ sở đào tạo và thiết chế văn hóa do khu vực tư nhân đầu tư, đặc biệt là ở vùng còn khó khăn. Khuyến khích hình thành các quỹ đào tạo, khuyến học, phát triển nhân tài, quảng bá văn học nghệ thuật, phát triển điện ảnh, hỗ trợ xuất bản...
Xây dựng một số công trình văn hóa trọng điểm. Các địa phương, các cơ quan, công sở, trường học, khu công nghiệp, doanh nghiệp, khu dân cư... có thiết chế văn hóa phù hợp (thư viện, nhà văn hóa, công trình thể thao...).
Tăng cường đầu tư để đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để nâng cao khả năng dự báo và định hướng phát triển văn hóa, xây dựng con người.
V- TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1-Các cấp ủy, tổ chức đảng tổ chức việc học tập và triển khai thực hiện Nghị quyết.
2-Đảng đoàn Quốc hội lãnh đạo việc sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hệ thống pháp luật về văn hóa, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện Nghị quyết và giám sát việc thực hiện.
3- Ban cán sự đảng Chính phủ lãnh đạo việc sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản dưới luật; chỉ đạo tổ chức tốt việc thi hành pháp luật; thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện và kịp thời điều chỉnh các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, phù hợp với yêu cầu thực tế, bảo đảm thực hiện có hiệu quả Nghị quyết.
4- Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương tổ chức quán triệt, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết và định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư kết quả thực hiện Nghị quyết.

Theo: chinhphu.vn

Thursday, October 16, 2014

Đi qua những khoảnh khắc

Màu áo quê hương
Đẹp quá! Sắc màu thân thương trên đất Hữu Lũng nói riêng, trên đất xứ Lạng nói chung.
Đi hội xuân 22 tháng giêng tp Lạng Sơn
Áo tràm.

Giao lưu văn nghệ xã Thiện Kị
Giao lưu văn nghệ Xã Đồng Tiến
Giao lưu văn nghệ xã Hòa Lạc


Hát sli

Wednesday, August 13, 2014

Giải cầu lông huyện Hữu Lũng mở rộng năm 2014



Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục của Bác Hồ cũng gắn liền với quan điểm yêu nước của nhân dân ta. Bác nói: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công. Vậy nên luyện tập thể dục, bồi bổ sức khoẻ là bổn phận của mỗi người dân yêu nước”. Rèn luyện sức khoẻ ở đây cũng hàm chứa cả sức khoẻ về mặt thể chất cũng như tinh thần khi Bác căn dặn: “Việc đó không tốn kém, khó khăn gì, gái trai, già trẻ, ai cũng nên làm và ai cũng làm được. Mỗi người lúc ngủ dậy, tập ít phút thể dục, ngày nào cũng tập thì khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ. Như vậy thì sức khoẻ”. Dân cường thì nước thịnh, với mong muốn đồng bào ai cũng gắng tập thể dục, Bác Hồ còn là tấm gương sáng về rèn luyện khi Người nói: “Tự tôi ngày nào cũng tập”.
Với tinh thần đó, Hữu Lũng luôn luôn quan tâm đến phong trào thể dục, thể thao trong nhân dân. Do đó, Trung tâm Văn hóa – Thể thao luôn quan tâm và tạo điều kiện,  tạo sân chơi, các câu lạc bộ hoạt động sôi nổi và có hiệu quả sâu rộng trong nhân dân trên địa bàn huyện.
Trong hai ngày 9-10 tháng 8, Trung tâm Văn hóa – Thể thao tổ chức giải cầu lông huyện Hữu Lũng mở rộng năm 2014, tại nhà thi đấu huyện Hữu Lũng. Với sự tham gia đông đảo của các đơn vị cơ sở, các cơ quan ban ngành trên địa bàn, các câu lạc bộ, các đơn vị sự nghiệp, và của đơn vị huyện Chi Lăng, với các nội dung đôi nam, đôi nữ, đơn nam, đơn nữ. với tinh thần giao lưu, học hỏi, thi đấu công bằng, cao thượng.

(hình a).
(hình b).

(Hình c).
(Hình d)

          
          (hình e).
(Hình a, b, c, d, e các vận động viên đang thi đấu)
Với cơ cấu giải thưởng, 4 giải nhất (2 giải đôi nam , đôi nữ và 2 giải đơn nam, đơn nữ), 4 giải nhì (2 giải đôi nam, đôi nữ và 2 giải đơn nam, đơn nữ), 7 giải ba (2 giải đôi nam, 2 giải đôi nữ, 2 giải đơn nam, 1 giải đơn nữ).
(hình a)
(hình b)
(Hình a, b Đ/c Phó chủ tịch huyện trao giải nhất cho các đội).

Như Bác Hồ từng nói: Dân cường làm nên nước thịnh. Điều này có nghĩa sức khoẻ của nhân dân là một trong những nhân tố to lớn quyết định sự phát triển đất nước đi tới “Dân giàu nước mạnh”. Do đó, TDTT phục vụ đắc lực sức khoẻ nhân dân cũng đồng thời góp phần phục vụ công cuộc chấn hưng đất nước. Bởi vậy, các quan điểm khác của Hồ Chí Minh đều nhất quán sự định hướng TDTT phát triển mạnh vì sức khoẻ của nhân dân. Thông qua phục vụ sức khoẻ nhân dân, phục vụ sức khoẻ cho mọi người, TDTT góp phần phục vụ tất cả các hoạt động phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, giáo dục… tức là phục vụ sự nghiệp phấn đấu cho mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh”.

Monday, August 4, 2014

bài thu hoạch lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh năm 2014

Câu hỏi:
Đồng chí hãy nêu mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm phòng chống “Diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ”. Phân tích giải pháp số 1 trong phòng chống bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam. Liên hệ bản thân với cương vị công tác hiện nay ?
Bài làm
          Dân tộc Việt Nam ta trải qua bốn ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, trải qua nhiều cuộc đấu tranh dành chủ quyền dân tộc, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Hồ Chí Minh (30/4/1975), đánh đuổi hoàn toàn các đế quốc xâm lược, non sông thu về một mối. Sau chiến tranh đất nước bắt tay vào xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa – một chế độ xã hội tiên tiến theo con đường chủ nghĩa Mác - Lê nin. Nhận thấy mối đe dọa của chủ nghĩa xã hội, các nước tư bản chủ nghĩa mà đứng đầu là Mỹ, thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ nhằm chống phá Cách Mạng Việt Nam, chiến lược này đã và đang diễn ra, có khi đã thu được một chút kết quả. Tuy nhiên, bằng sự sáng suốt của mình, Đảng ta đã chỉ ra mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm phòng chống chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ chủ nghĩa đế quốc và các lực lượng thù địch chống phá Cách Mạng Việt Nam. Từng bước đưa con thuyền Cách Mạng Việt Nam đi đến thắng lợi.
          Khi được học tập, bồi dưỡng kiến thức về Quốc phòng – An ninh, tôi hiểu được: Chiến lược “Diễn biến hòa bình” là chiến lược cơ bản của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm lật đổ chế độ chính trị - xã hội của các nước xã hội tiến bộ, trước hết là các nước xã  hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự, thúc đẩy tự diễn biến, tự chuyển hóa chế độ chính trị - xã hội theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản do Mỹ thao túng, bá quyền. Thuật từ “Diễn biến hòa bình” còn được sử dụng bằng các thuật từ khác như chiến tranh không có tiếng súng, cách mạng màu, cách mạng nhung, cách mạng hoa hồng, chiến thắng không cầm chiến tranh.
          Đứng trước nguy cơ đó nhà nước ta đã vạch ra mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm phòng chống “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các chủ nghĩa đế quốc và thế lực thù địch chống phá Cách mạng Việt Nam như sau:
Mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm phòng chống diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ
Mục tiêu chiến lược:
Giữ vững ổn định chính trị, tạo môi trường hòa bình để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làm thất bại âm mưu chiến lược Diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của địch, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa, bảo vệ  Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia, dân tộc.
          Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng khẳng định: Kiên quyết làm thất bại mọi âm mưu và thủ đoạn Diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ.
          Vấn đề đặt ra cho mục tiêu chiến lược là phải giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo môi trường hòa bình, ổn định lâu dài cho sự nghiệp xây dựng đất nước, phải lấy việc giữ vững, ổn định chính trị làm nền tảng để đẩy mạnh sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh.
Nhiệm vụ:
Từ Nghị quyết Trung ương 3 khóa VII đến Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, IX, X của Đảng đều khẳng định: Nhiệm vụ phòng, chống chiến lược Diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng an ninh hiện nay, đồng thời là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Nhiệm vụ chung trong phòng chống chiến lược Diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ là chủ động tiến công địch trên mọi lĩnh vực, không để xảy ra mất ổn định chính trị xã hội bạo loạn lật đổ và các tình huống phức tạp khác, ngăn chặn làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn Diễn biến hòa bình các thế lực thù địch, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền và chế độ xã hội chủ nghĩa.
 Quan điểm:
Phòng, chống chiến lược Diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ ở Việt Nam cần nắm vững một số quan điểm sau:
Kiên định, giữ vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
          Đây là con đường cách mạng Việt Nam, là sự lựa chọn đúng đắn mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Ngày nay, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội vẫn là mục tiêu hàng đầu của cách mạng Việt Nam, xóa bỏ mục tiêu này chính là mục đích chủ yếu của chiến lược Diễn biến hòa bình đối với Việt Nam.
          Để giữ vững mục tiêu và con đường đã lựa chọn, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây chính là sự vận dụng kinh nghiệm hàng ngàn năm của ông cha ta: Dựng nước phải đi đôi với giữ nước, đồng thời là qui luật tồn tại và phát triển của dân tộc hàng ngàn năm qua.
          Vì vây, phòng chống Diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của địch không chỉ là cuộc đấu tranh giai cấp mà còn là cuộc đấu tranh dân tộc trong tình hình mới. Trong đó trước hết là sự kiên định và giữu vững mục tiêu, con đường đi lên của cách mạng Việt Nam. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Từ đó kiên quyết  đấu tranh chống các âm mưu phá hoại của địch, chống sự thoái hóa, biến chất về tư tưởng, chính trị trong cán bộ, đảng viên, khắc phục tư tưởng chủ quan, mơ hồ, mất cảnh giác, thiếu trách nhiệm, né tránh đấu tranh chống lại các luận điệu sai trái, phản động. Mặt khác cần đề phòng nguy cơ “tự diễn biến” dẫn đến chệch hướng xã hội chủ nghĩa từ bên trong.
 Phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, tiến hành đấu tranh toàn diện trên tất cả các lĩnh vực.
          Sức mạnh bảo vệ tổ quốc của ta ngày nay là sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, là sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, được tạo ra trên cơ sở kết hợp các hoạt động: chính trị, kinh tế, quân sự, an ninh đối ngoại. Diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của địch là sự chống phá toàn diện bằng tổng hợp các biện pháp. Vì vậy, chống Diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ cũng phải chống trên các mặt, bằng tổng thể các biện pháp nhưng lấy phi quân sự là chủ yếu, với sức mạnh tổng hợp được tạo ra từ nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Trong đó lực lượng tiến hành là cả hệ thống chính trị và của toàn dân.
          Chống Diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ là nhiệm vụ trọng yếu hàng đầu, lâu dài của sự nghiệp quốc phòng an ninh đất nước, là cuộc đấu tranh giai cấp, dân tộc ở thời kì mới của nhân dân ta. Vì vậy, phải đặt dưới sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Đảng.
Chống Diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ phải nhằm kết hợp ngăn ngừa và đối phó, thắng lợi các tình huống chiến lược về quốc phòng an ninh có thể xảy ra.
          Tại hội nghị Trung ương 8 (Khóa IX) Đảng ta đã dự báo có ba tình huống chiến lược bảo vệ tổ quốc những năm tới. Các tình huống có mối quan hệ hữu cơ, tác động lẫn nhau, tình huống này có thể là tiền đề cho sự xuất hiện của tình huống kia. Trong đó tình huống: Biến động chính trị trong nước, đe dọa sự mất còn của chế độ và tình huống bạo loạn li khai ở một vùng hoặc ở một số vùng gây nguy cơ chia cắt đất nước là do hoạt động Diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của địch tạo ra, vì vậy, làm thất bại Diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của địch cũng chính là trực tiếp ngăn ngừa, đẩy lùi hai tình huống chiến lược trên. Mặt khác ngăn chặn được hai tình huống trên sẽ góp phần quan trọng triệt tiêu điều kiện, thời cơ để nước ngoài lợi dụng can thiệp, chống phá ta bằng cả chính trị, ngoại giao, kinh tế. Không cho kẻ thù kiếm cớ can thiệp quân sự, gây xung đột vũ trang và chiến tranh xâm lược nước ta (tình huống chiến lược 3). Vì vậy, chống Diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ là một nhiệm vụ quan trọng trong bảo vệ tổ quốc ngày nay.
Nắm vững pháp luật, chủ động, kiên quyết trấn áp các phần tử phản động để bảo vệ chính quyền, bảo vệ chế độ.
Chống Diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ là cuộc đấu tranh giai cấp ở thời kì mới, mà mục tiêu chủ yếu của đấu tranh giai cấp ở thời kì này là bảo vệ và giữ vững chính quyền cách mạng. Cuộc đấu tranh chống Diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ là một cuộc đấu tranh hết sức gay go, quyết liệt, lâu dài, một mất, một còn giữa ta và địch trong trong tình hình hiện nay. Vì vậy, chúng ta phải sử dụng các công cụ chuyên chính của nhà nước vô sản để bảo vệ thành quả cách mạng. Trên cơ sở pháp luật của nhà nước với sức mạnh của cả hệ thống chính trị, của toàn dân có lực lượng vũ trang làm nòng cốt, chủ động “vô hiệu hóa” và kiên quyết trấn ấp các lực lượng phản động để ngăn ngừa, đập tan bạo loạn của địch, bảo vệ chính quyền và và chế độ của ta. Các sự kiện ở Cộng hòa dân chủ Đức (1953), Hungary (1956), Tiệp Khắc (1968), Trung Quốc(1989), sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu và các cuộc “cách mạng nhung” gần đây ở một số nước cộng hòa thuộc SNG đã cho chúng ta thấy những bài học bổ ích về điều này.
          Khi xảy ra bạo loạn lật đổ, phải kịp thời kiên quyết xử lý, phân loại, tìm và trấn áp ngay những tên đầu sỏ cầm đầu và lực lượng vũ trang phản động của địch để bảo vệ Đảng, chính quyền, hỗ trợ cho đấu tranh chính trị.
          Từ nhận thức trên không cho phép ta mơ hồ, mất cảnh giác, cần tăng cường xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia và quốc phòng, chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân, cảnh giác sẵn sàng chiến đấu cao để ngăn ngừa đập tan mọi âm mưu và hành động gây bạo loạn của kẻ thù. Bên cạnh đó cần đề cao cảnh giác, làm thất bại mọi âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, công an, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang.
Phương châm:
Giữ vững ổn định bên trong, chủ động phòng ngừa, kết hợp giữa “xây” và “chống”
          Đây là phương châm chỉ đạo chung cho cả phòng, chống “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, phương châm này thể hiện tính chủ động tích cực của ta trong phòng, chống “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, lấy ngăn ngừa, đẩy lùi là yêu cầu hàng đầu nhằm đánh bại âm mưu thủ đoạn của địch.
          Với tư tưởng chủ đạo “trong ấm, ngoài êm” Đảng ta coi trọng sự ổn định vững mạnh bên trong vừa là mục tiêu vừa là điều kiện căn bản để ngăn ngừa đẩy lùi Diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của địch. Vì vậy, xây dựng đất nước ta vững mạnh về mọi mặt, đồng thời cảnh giác đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của kẻ thù, luôn là hai mặt cơ bản trong các giải pháp phòng chống của ta.
Khi bạo loạn xảy ra, cần phát huy sức mạnh tổng hợp, kết hợp các biện pháp, các mặt đấu tranh, xử lý kiên quyết, nhanh chóng, không để lan rộng, kéo dài.
          Phương châm này chỉ đạo phương thức đấu tranh và hành động của ta trong xử lý bạo loạn lật đỏ của địch.. Bạo loạn lật đổ là hành động chống phá bằng bạo lực có tổ chức do lực lượng phản động hay lực lượng ly khai đối lập trong nước hoặc cấu kết với nước ngoài tiến hành nhằm gây rối loạn an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội hoặc lật đổ chính quyền (địa phương hoặc trung ương). Bạo loạn lật đổ xảy ra còn tạo cớ, thời cơ cho các thế lực phản động quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ của ta. Vì vậy, đòi hỏi chúng ta phải kiên quyết, nhanh chóng huy động mọi lực lượng, sử dụng nhiều hình thức, biện pháp đấu tranh để dập tắt bạo loạn. Nếu để bạo loạn lan rộng, kéo dài, các thế lực thù địch bên ngoài sẽ kịp thời can thiệp, làm cho tình hình thêm phức tạp, khó kiểm soát, xử trí của ta lại càng khó khăn hơn.
          Để thực hiện tốt phương châm trên cần thường xuyên chủ động phát hiện và nắm chắc mọi ý đồ, hoạt động của địch, bám sát địa bà, dự kiến kế hoạch, phương án và chuẩn bị sẵn lực lượng chống bạo loạn ở từng cấp, tổ chức luyện tập thường xuyên để sẵn sàng xử trí kịp thời, nhanh gọn khi tình huống xảy ra.
Phân tích giải pháp thứ nhất trong phòng chống bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay: “Thường xuyên chú trọng tuyên truyền, giáo dục quan điểm, đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách của Nhà nước và phát huy sức mạnh toàn dân tộc nhằm phòng, chống chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ”.
          Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đảng ta thực hiện tư duy đổi mới trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, đối tượng và đối tác. Đồng thời đánh giá đúng âm mưu, thủ đoạn diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam. Trên cơ sở đó Đảng đã đưa ra quan điểm chỉ đạo phòng, chống chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam hiện nay. Đó là, phải thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục quan điểm, đường lối của Đảng, chủ trương chính sách của Nhà nước ta về phòng, chống chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam hiện nay. Có như vậy mới nâng cao được nhận thức của quần chúng nhân dân lao động, nhận thức của mọi cấp, mọi ngành về âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù và quan điểm chỉ đạo của Đảng ta về phòng, chống chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch hòng chống phá cách mạng nước ta. Đồng thời đây cũng là cơ sở để tạo ra sự đồng thuận, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, của mọi cấp, mọi ngành và mỗi người dân Việt Nam.
          Hình thức tuyên truyền, giáo dục âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam và quan điểm chỉ đạo của Đảng ta, chủ trương biện pháp phòng, chống âm mưu, thủ đoạn đó của Nhà nước ta phải tiến hành phong phú, đa dạng. Vận dụng linh hoạt, sát với trình độ nhận thức, môi trường, điều kiện cơ sở vật chất, cương vị chức trách được giao để xác định nội dung, hình thức tuyên truyền, giáo dục cho hiệu quả. Cần khắc phục những hiện tượng lệch lạc như coi nhẹ việc tuyên truyền, giáo dục quan điểm của Đảng, chủ trương biện pháp của Nhà nước về phòng, chống chiền lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam. Phê phán quan điểm cho rằng không có chiến lược diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam mà do chúng cường điệu hóa lên. Nếu có thì đó là trách nhiệm của lực lượng vũ trang, chứ không phải trách nhiệm của hệ thống chính trị, mọi cấp, mọi ngành và của mỗi người dân Việt Nam.
Liên hệ bản thân trên cương vị công tác hiện nay:
Về nhận thức chung của bản thân
Thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã sử dụng các hình thức, biện pháp phi vũ trang để chống phá Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại cả ở trong nước và nước ngoài. Đây là cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt, nhằm làm suy yếu nền kinh tế, rối loạn về xã hội, làm chệch hướng đường lối chính trị, làm mất sức chiến đấu của các lực lượng vũ trang, cô lập và hạ thấp vị thế Việt Nam trên trường quốc tế, làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, vào con đường xã hội chủ nghĩa. Ngày nay tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước và trên thế giới đang có những biến động lớn, sự tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường, sự giao lưu, hội nhập quốc tế càng mở rộng. Cùng với sự chống phá của các thế lực bằng “Diễn biến hòa bình” với các thủ đoạn tinh vi và quyết liệt hơn, đang đặt ra cho cách mạng nước ta những yêu cầu, nhiệm vụ và thách thức mới, đòi hỏi đội ngũ cán bộ phải có những nhận thức mới cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn mới, phải nêu cao ý thức tự học tập, tu dưỡng, rèn luyện trong thực tiễn, để nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ, tri thức khoa học cần thiết và phẩm chất đạo đức, lối sống, phương pháp và tác phong công tác đáp ứng đòi hỏi ngày một cao hơn của tình hình mới, nhiệm vụ mới.
          Là một cán bộ hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, bản thân tôi thấy mình cần phải thực hiện một số vấn đề sau:
 "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, phát luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá" . Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, văn hóa không thể tách rời với quốc gia dân tộc, văn hóa mang tâm hồn, diện mạo dân tộc, đó chính là bản sắc dân tộc của văn hóa. Rất nhiều lần Người thường nhắc nhở phải  “chăm lo đặc tính dân tộc”, “phát huy cốt cách dân tộc”, “lột cho hết tinh thần dân tộc”  trong xây dựng văn hóa. Vì vậy, văn hóa cũng là một lĩnh vực vô cùng quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước. Văn hóa là sức mạnh nội sinh quan trọng. Do đó, nó góp phần không nhỏ vào phòng chống “Diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ” của các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam.
          Trước tiên, thường xuyên tu dưỡng phẩm chất đạo đức, nỗ lực học tập và rèn luyện bản thân để nâng cao nhận thức trở thành công dân tốt, cống hiến hết mình cho cơ quan nói riêng, cho đất nước nói chung.
Luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tránh những cám dỗ vật chất mà các thế lực phản cách mạng sử dụng để dụ dỗ và làm giảm lòng tin của chúng ta đối với Đảng, với cách mạng.
Nêu cao tinh thần cảnh giác, phát hiện, góp phần đấu tranh, ngăn ngừa và đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ. Đặc biệt phải chú ý tới quá trình tự diễn biến bên trong, đây là một quá trình nguy hiểm mà chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch sử dụng đẻ chống phá các nước xã hội chủ nghĩa.
Giữ vững sự ổn định tư tưởng, chính trị của bản thân, phát huy tính thần đoàn kết trong tập thể.
Không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với đường lối xã hội chủ nghĩa.
Thường xuyên học tập nâng cao nhận thức về Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Hưởng ứng các cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Đảng và chính phủ phát động.
Thấy rõ Diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ là nguy cơ rất lớn, rất nghiêm trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay. Từ đó nhận rõ kẻ thù, đối tượng tác chiến, luôn đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, chuẩn bị tốt về tư tưởng, xây dựng ý chí quyết tâm, tinh thần chủ động, sáng tạo, vững vàng kiên định trước mọi diễn biến của tình hình, sẵn sàng hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.
          Luôn hiểu rõ chức năng, nhiệm vụ của bản thân và đơn vị, ra sức học tập rèn luyện nâng cao trình độ về mọi mặt.
Tích cực tham gia xây dựng  đơn vị vững mạnh, toàn diện, đoàn kết, nêu cao tinh thần phê bình và tự phê bình trong cơ quan, lấy việc xây dựng chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng trong công việc chung.
 Tham gia mọi hoạt động  góp phần vào thành công chung của cơ quan, cũng như góp phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước nói chung.
Không ngừng học tập nâng cao trình độ nhận thức và hành động thực tiễn về công tác dân vận. Vận động người thân trong gia đình, và hàng xóm xung quanh đoàn kết, chấp hành nghiêm túc chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước; Tuyên truyền, vận động mọi người không tham gia vào các tệ nạn xã hội, không để kẻ xấu có cơ hội lôi kéo làm suy yếu sức mạnh chiến đấu bảo vệ Tổ quốc của mình; phát hiện, tố cáo các hiện tượng tiêu cực và các hành vi làm nguy hại đến an ninh quốc gia.
Sau khi học xong lớp bồi dưỡng kiến thức chính trị Quốc phòng - An ninh tôi đã hiểu biết thêm nhiều về các vấn đề quân sự, Quốc phòng - An ninh, truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc, nhiệm vụ, trách nhiệm, nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, chủ quyền biên giới, vùng trời, biển đảo Việt Nam, cảnh giác phòng chống âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta. Cho bản thân  một cái nhìn toàn diện hơn về tình hình của đất nước hiện nay, những nguy cơ mà chúng ta đang phải đối mặt, cũng như lòng tự hào về truyền thống dựng nước, giữ nước của dân tộc ta từ xưa đến nay, lòng tự hào và sự nhận thức về vấn đề lãnh thổ, biên giới, chủ quyền đất nước; nâng cao tinh thần cảnh giác trước những âm mưu chống phá, lôi kéo của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ở trên mội lĩnh vực trong cuộc sống.  Như bác đã từng nói:
 “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một
Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi!'.




Thursday, July 3, 2014

Hội Thi Tuyên Truyền Viên Trẻ Năm 2014

Ban Chỉ Huy Quân Sự Huyện Hữu Lũng tham gia, Hội thi tuyên truyền viên trẻ năm 2014Tuổi Trẻ LLVT Quân Sự Tỉnh Phát Huy Truyền Thống, Cống Hiến Tài Năng, Tự Hào, Tiếp Bước Đi Lên” do Bộ Chỉ Huy Quân Sự Tỉnh Lạng Sơn tổ chức vào 30/6- ngày 01 tháng 7 năm 2014. Với chủ đề  “Vang Mãi Khúc Điện Biên”.
(Mở màn với Múa P/H khúc ca Rạng Rỡ Việt Nam).

(Múa P/H Giải phóng Điện Biên).

(P/H Lửa Hội).

(P/H Lửa Hội).

(P/H Tổ Quốc Gọi Tên Mình).

(P/H Tổ Quốc Gọi Tên Mình).

(Múa P/H Tổ Quốc Gọi Tên Mình).

(P/H Tiến Bước Dưới Quân Kì)


Kết thúc phần thi với ca khúc Tiến Bước dưới Quân kì, thể hiện một lòng hướng về Tổ quốc yêu thương, tiếp bước lớp lớp đàn anh đi trước. Sau hội diễn Ban Chỉ Huy Quân Sự Huyện Hữu Lũng Đã đạt giải nhất và được tặng giấy khen của Bộ CHQS Tỉnh Lạng Sơn.